Bấm một dòng để xem chi tiết bên dưới. "Lệch" là ln(giá / giá trị hợp lý tương đối): âm là rẻ hơn mặt bằng rổ sau khi hiệu chỉnh theo ROE, lãi suất và beta. Quạt giá là phân vị của phân phối lợi suất, không phải mục tiêu giá.
Vùng đậm P25 đến P75, vùng nhạt P5 đến P95. Độ rộng từ biến động EWMA, phân vị z gộp cả rổ; đã kiểm tra hiệu chuẩn ở mục 5.
ln(giá / giá trị hợp lý) trừ trung vị 13 ngân hàng cùng tháng. Dưới 0: rẻ tương đối.
Hàng: ROE nền cộng/trừ điểm %; cột: thay đổi lợi suất TPCP 10 năm (bp), giữ nguyên phần bù rủi ro ERP*.
Lãi suất phi rủi ro là lợi suất trái phiếu chính phủ 10 năm. Nguồn tổng hợp từ worldgovernmentbonds.com (dữ liệu gốc Investing.com), không phải HNX.
ERP ngụ ý = COE mà tại đó giá trị hợp lý bằng giá, trừ lãi suất; trung vị 13 ngân hàng. Cao nghĩa là thị trường đòi nhiều bù đắp hơn.
Lợi suất tháng vượt VN-Index hồi quy theo thay đổi lợi suất TPCP 10 năm, từ 10/2016. Âm: lãi suất tăng thì cổ phiếu kém hơn thị trường.
Mỗi bảng: lợi suất tháng của rổ ngành vượt VN-Index hồi quy theo thay đổi từng biến. "Tác động 3 tháng" là beta nhân với biến động của biến đó trong 3 tháng qua, chỉ tính khi |t| ≥ 2; ngược lại coi như chưa đủ bằng chứng.
Độ co giãn: giá đầu vào đổi 1% thì giá đầu ra đổi bao nhiêu % (cộng dồn độ trễ 0 đến 3 tháng). In đậm khi |t| ≥ 2. Quặng sắt cho thấy giá đầu ra gần như đổi cùng lúc, không báo trước; hệ số của USD vượt 1 vì USD biến động nhỏ.
Thay đổi biên gộp so với cùng kỳ (điểm %) khi giá trung bình quý tăng 10% so với cùng kỳ; hồi quy gộp các mã trong ngành, sai số theo cụm quý, khoảng 12 quý hiệu dụng nên rất ít quan sát độc lập. In đậm khi |t| ≥ 2. Độ trễ 1 quý cho biết giá báo trước biên gộp bao xa.
Hồi quy biến động tháng của giá nguyên liệu theo USD, CNY, lợi suất Mỹ 10 năm (bp) và VIX. In đậm khi |t| ≥ 2. R² thấp: vĩ mô giải thích ít phần biến động giá hàng hoá, trừ đồng và dầu.
Tại mỗi tháng chỉ dùng BCTC đã công bố (cuối quý + 45 ngày), lãi suất và beta tại ngày đó. IC là tương quan hạng cắt ngang giữa độ lệch giá và lợi suất sau 3 hoặc 6 tháng (âm là đúng chiều: lệch cao thì lợi suất sau thấp).
Tỷ lệ kết quả thực tế rơi dưới từng phân vị dự báo (kỳ vọng bằng đúng tên phân vị), 13 ngân hàng, từ 2018, phân vị z chỉ dùng mẫu đã kết thúc trước ngày dự báo.
Kéo thanh trượt để giả định một cú sốc; trang cộng các hệ số lịch sử có ý nghĩa thống kê (|t| ≥ 2) (bảng ở thẻ Ngân hàng, mục 3). Cú sốc làm dịch chuyển giá ước tính của cổ phiếu ở các thẻ khác (giả định tác động đủ trong 3 tháng). Các hệ số ước lượng đơn biến, nên khi kéo nhiều biến tương quan với nhau (ví dụ Brent, USD, lợi suất Mỹ) tổng có thể tính trùng. Đây là công cụ hình dung độ lớn, không phải dự báo.
Độ co giãn lịch sử, chỉ tính khi |t| ≥ 2; đồng và USD là chỉ báo cầu toàn cầu chứ không phải nguyên liệu trực tiếp.
Giá trị hợp lý (RI, giữ nguyên ERP*) thay đổi cơ học theo lãi suất; cột cuối là độ nhạy lợi suất lịch sử (chỉ tính khi |t| ≥ 2). Hai cách đo khác nhau, không cộng với nhau.
Xanh: lợi nhuận kỳ vọng vượt lợi suất đòi hỏi (hoặc tăng), đỏ: dưới. Màu đậm theo độ lớn. Cột "theo kịch bản" dịch theo thanh trượt ở thẻ Kịch bản vĩ mô (chỉ qua giá hàng hoá và tỷ giá, cho các quý chưa kết thúc).
Dữ liệu 2008 đến nay. Hai nguồn: chu kỳ mùa vụ (cùng tháng lịch các năm trước) và hồi về trung bình 60 tháng. Kiểm định ngoài mẫu mở rộng từ 2016: IC = tương quan dự đoán và thực tế. Chỉ biến có IC ≥ 0,15 và t ≥ 2 mới được dùng; còn lại độ dịch chuyển dự kiến bằng 0 (bước ngẫu nhiên).
Khoảng 9 năm. In đậm khi |t| ≥ 2 (khoảng 84 ô nên vài ô đậm có thể do ngẫu nhiên). Cột cuối cộng các tháng đậm trong 3 tháng tới.
Tại mỗi quý gốc chỉ dùng BCTC và giá hàng hoá đến thời điểm đó (giá tương lai = giá cuối). Hệ số biên gộp lấy từ hồi quy toàn mẫu nên có nhìn trước. IC là tương quan hạng giữa tăng trưởng LNST TTM dự báo và thực tế.
Vùng đậm P25 đến P75, vùng nhạt P5 đến P95, đường chấm là trung vị.
Giá ước tính bằng đồng, kèm % chênh so với giá hiện tại. Xanh: cao hơn giá nay, đỏ: thấp hơn; màu đậm theo độ lớn trong nhóm đang xem. Bấm tiêu đề cột để sắp xếp, bấm dòng để xem quạt.
Tỷ lệ kết quả thực tế rơi dưới các phân vị dự báo (kỳ vọng bằng đúng tên phân vị), từ 2018, mẫu z chỉ gồm các cửa sổ đã kết thúc trước ngày dự báo.